Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước được công bố hôm 10-05-2018 đã nêu lên những con số thực sự gây sốc về hiện trạng của những dự án hạ tầng được đầu tư bằng vốn nhà nước hoặc nguồn vốn xã hội hóa.

Đó là tình trạng đội vốn rất lớn so với phê duyệt ban đầu của các dự án sử dụng vốn trực tiếp từ ngân sách và việc phê duyệt vốn quá cao so với giá trị đầu tư thực trong hàng loạt dự án BT (xây dựng – chuyển giao) và BOT (xây dựng – vận hành – chuyển giao). Đầu tư mà mất kiểm soát chi phí, đẩy vốn lên một cách vô tội vạ như vậy không chỉ làm giảm hiệu quả của đầu tư công, tạo áp lực lớn lên ngân sách quốc gia, mà còn chồng chất thêm gánh nặng thuế phí lên vai người dân.

Dự án nạo vét và làm kè đá đoạn sông Sào Khê ở Ninh Bình có mức vốn được duyệt 72 tỉ đồng, nay nâng lên thành 2.579 tỉ đồng. Tuy cấp độ đội vốn là vô cùng lớn, nhưng nếu so về con số tuyệt đối thì nó vẫn chưa là gì so với mức tăng thêm tới 7.000 tỉ đồng của dự án nạo vét sông Đáy cũng ở Ninh Bình hay con số 10.332 tỉ đồng của Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn 1. Tất nhiên, đây không phải là những trường hợp các biệt mà vẫn còn một danh sách dài những dự án bị đội vốn hàng ngàn, thậm chí là hàng chục ngàn tỉ đồng khác.

Ở chiều ngược lại, có những dự án BT, BOT không bị đội vốn mà ngay từ đầu đã được một số cơ quan chức nang phê duyệt ở mức vốn cao ngất ngưởng. Chỉ với 30 dự án BT, sau khi kiểm tra Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xử lý tài chính hơn 4.500 tỉ đồng. Tương tự, việc kiểm tra 40 dự án BOT cũng đẫn đến kết quả Kiểm toán Nhà nước kiến nghị giảm thu tới 120 năm thu phí để hoàn vốn và 1.467 tỉ đồng giá trị đầu tư.

Giải thích cho nguyên nhân dự án đầu tư công bị đội vốn, một số người có trách nhiệm cho là tại cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bất cập, do trình độ chuyên môn của các cơ quan tham mưc kém… Tất nhiên, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản chưa hoàn thiện, nhưng đây không phải là lý do có thể thuyết phục được người dân. Ít nhất nó không giải thích được mâu thuẫn: cũng là những dự án cơ sở hạ tầng, cũng những cơ quan đó, bộ máy thẩm định và phê duyệt nhưng kết quả tính chi phí đầu tư ban đầu giữa những công trình sử dụng trực tiếp vốn ngân sách và các dự án BT, BOT lại trái ngược hoàn toàn.

Và, dù việc tính toán chi phí ban đầu có trái ngược, nhưng kết quả của cả hai dạng đầu tư vẫn là chi phí được đẩy lên cao ngất. Thế nên, chắc chắn đằng sau phải còn những lý do thiếu minh bạch nào đó. Nhất là khi các dự án này đều ít nhiều liên quan đến những sai phạm mà Kiểm toán Nhà nước đã nêu ra như phê duyệt dự án khi chủ trương đầu tư chưa được duyệt, chưa đủ thủ tục, không phù hơp với quy hoạch vùng, dự án không được đấu thầu mà là chỉ định thầu…

Ngoài ra, hiện trạng của nhiều dự án hạ tầng được phơi bày ra công luận thời gian gần đây còn cho thấy một thực trạng đáng lo ngại khác, đó là cơ chế giám sát hầu như đã bị vô hiệu hóa trong thực tế. Trên nguyên tắc, các dự án đầu tư, nhất là những dự án lớn, đều phải được hội đồng nhân dân cấp địa phương hoặc Quốc Hội cho ý kiến và giám sát. Nhưng rất nhiều dự án có vấn đề mà người dân chỉ được biết sau khi có kết quả thanh tra, hoặc bị thua lỗ, rơi vào bế tắc tài chính đến mức chủ đầu tư không còn cứu vãn được. Hiệu quả giám sát kém có thể là kết quả của tình trạng thiếu minh bạch, nhưng cũng có thể là do ai đó thao túng, vô hiệu hóa

Thời báo kinh tế Sài Gòn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here